Mon, Ngày 06 / 09 / 2010
English
 
SẢN PHẨM
Áo cưới
Áo dài cưới
Áo dài thêu
Áo dài Thượng Hải
Áo dài trẻ em
Áo dài cách tân
Bộ Sưu Tập
DỊCH VỤ
May đo thiết kế
Cho thuê
Dạy trang điểm
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Bạn có thể liên lạc qua hệ thống yahoo messenger:
TỶ GIÁ NGOẠI TỆ
THỜI TIẾT
THỐNG KÊ TRUY CẬP
Số lượt truy cập: 5
Tổng số truy cập: 74340
Góc tư vấn
Áo dài Việt Nam dưới cái nhìn theo dòng lịch sử
Trang phục là một trong ba yêu cầu của đời sống vật chất, ăn-mặc-ở, đó là sản phẩm văn hóa sớm nhất của loài người. Trang phục cũng được thay đổi theo quá trình phát triển của lịch sử. Và đồng thời nó còn mang nét đẹp văn hóa riêng biệt độc đáo của mỗi dân tộc trên thế giới. Nhìn vào y phục dân tộc dường như có thể thấy được cả vóc dáng non sông và tâm hồn con người nơi đó. Trang phục truyền thống mang đậm nét văn hóa Việt được bạn bè thế giới biết đến đó là nét nổi bật đặc trưng của tà áo dài và nón lá. Hơn nữa trang phục ấy lại để dành tôn vinh cho biểu tượng của cái đẹp hoàn thiện nhất mà tạo hóa ban tặng cho loài người, bởi áo dài và nón lá là trang phục của riêng người phụ nữ.

Tiền thân, không ai biết rõ chiếc áo dài nguyên thủy ra đời từ lúc nào và hình dáng ra sao vì không có tài liệu ghi nhận. Y phục xa xưa nhất của người Việt, theo những hình khắc trên mặt chiếc trống đồng Ngọc Lũ cách nay khoảng vài nghìn năm cho thấy, hình phụ nữ mặc trang phục với hai tà áo xẻ. Sử gia Đào Duy Anh viết, “ Theo sách Sử ký chép thì người Văn Lang xưa mặc áo dài về bên tả (hình thức tả nhiệm). Sử lại chép rằng, ở thế kỉ thứ nhất, Nhâm Diên (thái thú quận Cửu Chân thời Hán Quang Vũ Đế, giai đoạn Bắc thuộc lần 1 trong lịch sử dân tộc Việt Nam) đã dạy cho nhân dân quận Cửu Chân dùng kiểu áo quần theo người Tàu, như vậy thì có thể suy luận rằng trước thời Bắc thuộc thì người Việt gài áo về tay trái, sau bắt chước người Trung Quốc mới mặc áo gài về tay phải. Kiểu sơ khai của chiếc áo dài xưa nhất là áo giao lãnh, tương tự như áo tứ than nhưng khi mặc thì hai than trước để giao nhau mà không buộc lại. Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, thắt lưng mầu buông thả. Xưa các bà các cô búi tóc trên đỉnh đầu hoặc quấn quanh đầu, đội mũ long chim dài, về sau bỏ mũ lông chim để đội khăn, vấn khăn, đội nón lá, nón thúng. Cổ nhân xưa đi chân đất, về sau mang guốc gỗ, dép, giày. Vì phải làm việc đồng áng hoặc buôn bán, chiếc áo giao lãnh được thu gọn thành kiểu áo tứ than (gồm bốn vạt nửa, vạt nửa trước phải, vạt nửa trước trái, vạt nửa sau phải, vạt nửa sau trái). Áo tứ thân được mặc ra ngoài váy, xắn quai cồng để tiện cho việc gồng gánh nhưng vẫn không làm mất đi vẻ đẹp của người phụ nữ. Áo tứ thân thích hợp cho người phụ nữ miền quê quanh năm cần cù bươn chải, gánh gồng tháo vát. Với những phụ nữ tỉnh thành nhàn nhã hơn, muốn có một kiểu áo dài được cách tân thế nào đó để giảm chế nét dân dã lao động và gia tăng dáng dấp trang trọng khuê các. Thế là ra đời áo ngũ than với biến cải ở chỗ vạt nửa trước phải nay được thu bé lại trở thành vạt con, thêm một vạt be bé nằm ở dưới vạt trước. Áo ngũ than che kín thân hình không để hở áo lót. Mỗi vạt có hai thân nối sống (vị chi thành 4) tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và vạt con nằm dưới chính là thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo. Vạt con nối với vạt cả nhờ cổ áo có bâu đệm, và khép kín nhờ năm chiếc khuy tượng trưng cho quan điểm về ngũ thường theo Nho giáo và ngũ hành theo triết học phương Đông.

Trở lại
Quay lại
TIN NỔI BẬT
QUẢNG CÁO
QUẢNG CÁO
QUẢNG CÁO